c
[00] Mục Lục
[00-1] Lời nói đầu
[00-2] Lời tựa
PHẦN I : TIA SÁNG THIỀN ÐỊNH
[01-01] Dẫn nhập
[01-02] Ðối Thoại 01-17
[01-03] Ðối Thoại 18
[01-04] Ðối Thoại 19-24
[01-05] Ðối Thoại 25-27
[01-06] Ðối Thoại 28-30
PHẦN II : THỜI KỲ NHIẾP TÂM
[02-01] Dẫn nhập
[02-02] Ngày Thứ Tư, Lời bình về " Ba bất lực" Công Án 88 của Bích nham lục
[02-03] Ngày Thứ Năm, Lời bình về" Tôi không biết" Công Án 1 của Bích nham lục
[02-04] Ngày thứ sáu,-
Lời bình về " Một người ở trên một cái cây" Công Án 5  Vô môn quan của Vũ môn.  Ngày thứ bảy, Lời bình về " Suy nghĩ không tốt cũng không xấu"?Công Án 23 Vô môn quan của Vũ môn
[02-05] Mô Tả  Sự  Giác Ngộ
[02-06]Thật hân hạnh là một con người
PHẦN III : SỰ TỤNG NIỆM
[03-01] Dẫn nhập
[03-02] I / NHỮNG BÀI KỆ: Tứ hoằng thệ nguyện - Tâm kinh Bát Nhã - Bạch Ẩn Huệ Hạc toạ thiền ca - Tín tâm minh
[03-03] II/ MỘT LÁ THƯ VÀ MỘT LỜI ÐÁP: Thiền đạo?" nó làm tôi mất khí thế"
[03-04] III NHỮNG ÐỐI THOẠI: Không phải cúng dường cho Ðức Phật sao? Từ bi , giống như tình yêu, không phải là những gì người ta nói đến - Quán thế âm, vị Bồ tát của lòng từ bi, thật sự hiện hữu hay không? Sám hối những hành vi tội lỗi và che dấu những hành động tốt
PHẦN IV: ÐẠO ÐỨC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
[04-01] I NHỮNG BỨC THƯ VÀ LỜI ÐÁP: "Sống trên đời như là một Phật tử Thiền có ý nghĩa gì?"" Thiền là một cách trốn thoát?Bạn đang làm gì để giúp đở xã hội"" Tôi có phải từ bỏ gia đình để đắc ngộ trong Thiền hay không?"
[04-02] II CÁC ÐỐI THOẠI:  Ngộ đưa ra giải pháp cho những vấn đề đạo đức nan giải phải không? Thiền ở trên đạo đức nhưng đạo đức không thấp hơn Thiền - Nhà chứa và Phật giáo
[04-03] III THUYẾT PHÁP: Giới luật thứ nhất " đừng giết mà nên nuôi dưỡng những mầm sống" : tranh luận về giết thú vật, phá thai, chiến tranh, tự sát, giúp người bệnh chết nhẹ nhàng theo ý muốn. Lời cuối cùng? Một chú thích cá nhân
[05] Lời kết
c

 

cÐại Thừa Xuất bản 1998
THIỀN, ÁNH BÌNH MINH PHƯƠNG TÂY
Nguyên Tác: Roshi Philip Kapleau
Việt dịch : Huỳnh Công Hoàng
II NHỮNG ÐỐI THOẠI

1 NGỘ CÓ ÐƯA RA GIẢI PHÁP CHO TÌNH TRẠNG LƯỠNG NAN VỀ ÐẠO ÐỨC HAY KHÔNG?

NGƯỜI HỎI: Ngộ có giải quyết tất cả những vấn đề cuộc sống con người không?

LÃO SƯ: Ðiều trước đây là vấn đề nay không còn là vấn đề nữa.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI:Thế về vấn đề đạo đức? Rõ là người ta không nên sát sinh hay trộ? cắp hay nói dối. Nhưng đôi khi trong một hoàn cảnh nào đó, cho dù anh suy nghĩ mọi cách, dường như không có câu trả lời "đúng". Liệu ngộ có cho phép nhìn thấu qua những vấn đề đạo đức này để hành động đúng trở nên rõ ràng không?

LÃO SƯ: Ngay cả những người ngộ sâu vẫn phải đối mặt với những vấn đề đạo đức. Những năm về trước, thầy tôi kể một câu chuyện trong bài giảng về thách thức đạo đức đối đầu với một thiền sư, đã gây cho những người tham dự khóa nhiếp tâm một phản ứng tình cảm mạnh nhất mà tôi từng chứng kiến. Ðây là những gì ông kể mà tôi hãy còn nhớ:

Thời xưa có một thiền sư nọ có lòng khao khát xuất gia khi ông ta còn ở lứa tuổi thiếu nhi. Nhưng vì thân phụ qua đời sớm, ông phải bảo bọc nuôi nấng người mẹ quá bụa bằng nghề bán củi. Không thể dẹp bỏ đi lòng mong muốn bắt rễ từ lâu được đi theo con đường tôn giáo, khi đã để dành dụm được một ít tiền, ông để lại cho mẹ với dòng chữ," Hãy tha thứ việc con ra đi, nhưng con phải tìm một người thầy tâm linh." Kể từ đó người mẹ không còn nghe tin tức gì về ông ta.

Nhiều năm trôi qua, người mẹ bấy giờ đã già và loà một mắt. Bà rất muốn gặp đứa con duy nhất trước khi chết. Một hôm tình cờ gặp một du tăng, người đã từng sống ở một tu viện trên vùng đất xa xôi của đất nước, ông nói với bà là ông có lý do để tin rằng vị trụ trì chùa này là con trai của bà.

Phấn chấn bởi thông tin này vì có khả năng gặp lại con mình, bà lên đường tìm ngôi chùa ấy. Sau nhiều năm đi lại khó nhọc, bà tìm thấy cái mà bà tin là cái tu viện được mô tả bởi vị du tăng. Lúc này rất yếu, bà run rẩy tiến đến cổng, và một ông tăng lể phép hỏi nguyên do bà lặn lội đến đây. Bà kể câu chuyện về người con và trình bày lý do tại sao bà tin là vị trú trì này là con của bà. Bà có thể gặp một chốc hay không? Bà không muốn sống thêm lâu hơn nữa và sẽ chết bình yên nếu có thể gặp lại con một lần nữa.

Vị tăng yêu cầu bà chờ và vào thưa lại với vị trú trì. Một chập sau ông ta quay lại và nói," Tôi rất tiếc. Tôi đã thuật lại mọi thứ mà bà đã kể cho tôi với thầy trú trì nhưng ông nói,' Hẳn là bà ấy đã lầm; ta không là con của bà.'"

Khi những lời này được nói ra, cả thiền đường bật khóc. Nam lẫn nữ, cả lão sư nữa, khóc công khai.

Tôi nghe câu chuyện này bằng tiếng Nhật, tôi không rõ cái gì đã thúc sự bùng nổ tình cảm. Trên đường về nhà ( khoá nhiếp tâm tổ chức ở miền Bắc Nhật bản) tôi ngồi kế lão sư trên tàu hỏa và có cơ hội để hỏi điều đặc biệt của câu chuyện và về việc khóc.

" Tại sao mọi người đột nhiên bật khóc lúc vị trụ trì nói ông ta không phải là con của bà? Ông là con của bà ta, phải không?"

" Ðúng, ông ta là con," lão sư đáp," Hãy nhớ rằng ông ta không gặp lại mẹ trong nhiều năm từ khi xa nhà. Ông ta biết bà nay đã già yếu và khi gặp bà, ông sẽ bị tràn ngập bởi lòng mong muốn ôm lấy bà và chăm sóc cho bà. Nhưng ông có trách nhiệm huấn luyện tinh thần cho hơn năm trăm tăng chúng. Nếu mẹ ông sống trong tu viện hay gần đó, ông sẽ muốn ở bên bà và vì vậy có ít thời gian chuyên tâm vào việc huấn luyện thiền cho tăng chúng. Chúng ta có thể hình dung sự đấu tranh gay gắt đầy ray rứt dằn vặt để đưa ra câu trả lời mà cuối cùng vị tăng kia báo lại. Và vì nhiệm vụ của mình, vị trú trì chấp nhận sự đau khổ, thay vào đó tấm lòng của ông được cảm nhận sắc bén bởi mọi người trong thiền đường, họ tất cả bọn họ đã khóc."

NGƯỜI HỎI THỨ BA: Ít ra vị trú trì có thể gởi lời nhắn cho mẹ rằng ông chính là con bà và vẫn khoẻ, nhưng ông không thể gặp bà sao?

LÃO SƯ: Nếu ông ta làm như vậy, không phải sự hờn giận của bà mẹ tệ hơn sao?

NGƯỜI HỎI THỨ TƯ: Tại sao nhiệm vụ của ông đối với tăng chúng lớn hơn nhiệm vụ đối với mẹ gìa của mình? Tôi có biết người Á đông, đặc biệt là người Nhật hết lòng tận tụy vì cha mẹ và chăm sóc họ rất tốt. Không phải thái độ này rất xa rời văn hoá của họ hay sao?

LÃO SƯ: Vị trú trì trong trường hợp này phản ánh cái ý nghĩa đặc biệt về nhiệm vụ của ông. Một lão sư ở Nhật, người mà tôi từng theo thọ giáo, có người mẹ gìa sống cùng trong khuôn viên của tu viện và thường xuyên đi lại thăm nom. Có lẽ vì ở đó có hai mươi tăng chúng thay vì có đến năm trăm, nên ông nhận thấy mối quan hệ với mẹ không can thiệp các mối quan hệ với chư tăng.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Thế còn về người mẹ? Phản ứng của bà đối với lời từ chối của vị trú trì?

LÃO SƯ: Không mất nhiều tưởng tượng phỏng đoán, phải không? Nhưng đây là hệ quả của câu chuyện.

Sau khi bà mất đi, vị trú trì có nội kiến nhìn thấy mẹ trong vùng đất Tịnh độ. Bà phát ra hào quang và chắp tay nói với ông là bà đã tha thứ cho ông, vì bây giờ bà đã hiểu tại sao ông không gặp bà. Vị trú trì biết rằng mẹ mình đã ngộ nên khóc vì vui mừng.

2 THIỀN Ở TRÊN ÐẠO LÝ NHƯNG ÐẠO LÝ KHÔNG Ở DƯỚI THIỀN

NGƯỜI HỎI: Trong một tập tin nội bộ của một Trung tâm Thiền nào đó, tôi đọc được một mẫu đối thoại gây ra nhiều bối rối trong tâm tôi. Tôi vô cùng biết ơn nếu thầy cho tôi biết phản ứng của thầy đối với việc này. Tôi mang bản tin theo đây. Vì nó khá dài, tôi có thể nói tóm tắc nội dung chính của nó không?

LÃO SƯ: Ðược.

NGƯỜI HỎI: Một lần nọ, vị trú trì của một ngôi chùa ở vùng quê đi vắng, vị tăng có nhiệm vụ quản chúng bảo mấy ông tăng khác đem con bò của chùa đi bán để mua rượu thịt và thức ăn ngon, sau đó, họ thức suốt đêm ăn nhậu no say. Ngày hôm sau vị trú trì trở về để ngồi thiền buổi sáng, ông nhìn thấy học trò mình, tất cả đều ngủ say giữa những thức ăn thừa của bửa tiệc và con bò biến mất. Giận lắm, ông gọi mọi người tập trung ở chánh điện và yêu cầu mang con bò trở về. Nghe đến đây, vị trưởng tăng cởi bỏ áo quần và bò quanh phòng, rống lên "Umm!" Mừng rở, sư đánh vào mông anh ta ba mươi lần và nói," Ðây không phải là con bò của ta. Con này nhỏ quá! " Tất cả đều nhẹ nhỏm và vấn đề không còn được nói nữa.

Tôi có nhiều câu hỏi, nhưng trước hết, phản ứng của thầy như thế nào về nó?

LÃO SƯ: Ðiều mà vị sư làm là đúng. Nếu tôi ở đó, dầu vậy, tôi sẽ cầm roi đánh vào đít anh ta.

NGƯỜI HỎI: Tại sao ?

LÃO SƯ: Vì đang trông bò.

NGƯỜI HỎI: Ðó là câu hỏi kế tiếp của tôi. Thiền viện thường nuôi bò hay súc vật hay sao?

LÃO SƯ: Không. Súc vật phải được nuôi và chăm sóc, thường vào thời gian rãnh và điều này có thể can thiệp vào kế hoạch thiền và học tập của tăng chúng. Nhưng quan trọng hơn, thiền viện không nuôi bò hay uống sữa bò vì chính Ðức Phật không uống sữa--vì như vậy là cướp mất sữa của bò con.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Còn về cách cư xữ của các tăng thì sao?

LÃO SƯ: Thiền giả phát triển tâm linh cao thường làm những việc khá ngạc nhiên--ngạc nhiên, đó là đối với người chưa ngộ--nhưng chỉ những vị tăng chưa phát triển bị mê hoặc mới ăn cắp bò. Bán nó để mua rượu thịt và lao vào nhậu nhẹt. Hành động theo cách này được gọi là những kẻ vô đạo bay mùi cá thối.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Không phải giới luật Phật giáo cấm uống rượu ăn thịt sao? Các thiền tăng được miễn trừ giới luật hay sao?

LÃO SƯ: Thiền tăng cũng là Phật tử.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Hãy để tôi thử bảo vệ họ. Người ta cho rằng Thiền dạy sự tự do. Nhưng làm cách nào anh được tự do trong khi bị bao bọc trong hàng rào giới cấm? Và tại sao thiền giả không nên ăn thịt uống rượu hay sử dụng ma tuý nếu người ấy muốn? Ðiều gì sai khi ta dùng nó vừa phải?

LÃO SƯ: Tự nó không là gì cả.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Có phải thầy ám chỉ là thiền giả khi ngộ rồi bỏ qua giới cấm nếu thấy thích hợp để làm như thế không?

LÃO SƯ:Những người tiến bộ trong tu luyện không bị gắn vào giới cấm, họ cũng không phá vở nó để chứng minh là được tự do. Giới cấm giống như giàn dáo: cần thiết để dựng cấu trúc lớn, nhưng ai sẽ khăng khăng giữ lại giàn dáo khi nhà được hoàn thành? Hãy nhớ, giới cấm không phải là những điều răn được một bậc thiêng liêng hay người thông suốt mọi thứ truyền xuống. Thay vào đó nó biểu lộ con người giác ngộ sâu, hoàn hảo, với không có cảm giác tôi và người khác, cư xữ như thế nào. Cá nhân như vậy không bắt chước giới cấm; nó bắt chước y. Tuy nhiên, trước khi anh tới trình độ này, anh phải tuân theo giới luật, vì trừ phi tâm anh thoát khỏi sự náo động, từ đó tạo ra cách cư xữ vô tâm, anh sẽ không bao giờ đắc ngộ. Ðó là lý do tại sao giới luật là nền tảng của tu luyện tinh thần.

Hãy trở lại câu chuyện anh đề cập trước đây. Anh nói là khi sư quay về ngồi thiền buổi sáng và nhận thấy các tăng đang nằm ngủ. Như vậy, họ không tọa thiền sáng hôm đó--rõ ràng là họ chưa tỉnh rượu--có lẽ cũng không toạ thiền tối đó. Ðến với ngộ đòi hỏi đầu óc trong sáng, năng lượng tập trung, ý chí mạnh, và những thứ này phát triển từ sự kỷ luật trong thiền; họ chỉ có thể bị yếu đi vì ăn uống quá lố.

Câu chuyện này cũng minh hoạ rằng hễ phạm một giới cấm thì dẫn đến phạm những giới cấm khác. Nếu những vị tăng này không phạm vào giới cấm thứ hai--không trộm cắp--họ không phạm giới thứ năm, không uống rượu.

Ăn thịt, cố nhiên, không cụ thể cấm trong giới luật. Tuy nhiên, kinh Lăng nghiêm và kinh Lăng già --cả hai là kinh điển Ðại thừa--thật hùng hồn khi kết án việc ăn thịt.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Lý do gì kinh này đưa ra?

LÃO SƯ: Trong cái vòng luân hồi sinh tử vô tận, không có ai mà không từng là mẹ, cha, chồng vợ, anh, chị, em, hay con cháu ta--không ai là không thân thuộc với ta, thậm chí trong kiếp sống thú. Thế thì làm sao một người có trình độ tâm linh cao có thể đến với tất cả chúng sinh, nếu chính họ ăn thịt của sinh vật có cùng bản tánh như mình? Nhìn theo cách này, không phải những người ăn thịt kia chẳng khác gì ăn thịt người hay sao? Làm thế nào người ta có thể tìm giải thóat từ việc gây đau khổ dù trực tiếp hay gián tiếp cho sinh vật khác? Những người ăn thịt súc vật rõ ràng thích hưởng thụ nó, như vậy, họ vui từ cái chết của các sinh vật khác.

Khi anh ngừng suy nghĩ về điều này, không phải việc giết và ăn thịt con bò là hành động vô ơn đê tiện hay sao? Con bò là mẹ nuôi của con người. Sữa của nó và các sản phẩm phụ nuôi dưỡng người lớn và trẻ em với cái giá của con cháu nó. Nhưng khi nó quá già và không còn cho sữa, con người biểu lộ lòng lòng biết ơn với những năm tháng phục vụ của nó như thế nào? Bằng cách cho nó sống tiếp những năm tháng tàn tạ còn lại trong dể chịu và mãn nguyện? Không! Người ta thường giết nó một cách độc ác để ăn thịt lấy da làm giầy dép thời trang, càng tăng thêm sự sĩ nhục khi dẫm nó dưới chân. Tuy vậy, các nhà đạo đức lại nói rằng con người với bản tính nâng cao là sinh vật duy nhất biểu lộ lòng biết ơn.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Nếu bản thân mình không tự giết hại súc vật và chúng không bị giết vì lợi ích của mình, thì tại sao nó cũng là điều xấu?

LÃ SƯ: Lò sát sinh có thể được che đậy dưới hình thức mỹ miều xa hàng dặm, như Emerson nói, nhưng nó vẫn là đồng loả. Bất cứ con vật nào gì bị giết hại để lấy thịt cho ta ăn, nếu ta cho thịt nó vào bụng, ta là kẻ tòng phạm của việc giết hại vô cớ. Tại sao vô cớ? Bởi vì điều chắn chắn và rõ ràng là đễ sống và làm việc tốt đâu cần dùng chất đạm động vật.

Anh đã hỏi tôi nhiều. Bây giờ tôi mạn phép hỏi anh ít câu. Tại sao anh quá quan tâm đến giới luật?

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Tôi không biết.

LÃO SƯ: Anh đang tìm mối liên hệ giữa đạo đức và ngộ trong Thiền phải không?

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Vâng, nó quấy rầy tôi.

LÃO SƯ: Bằng cách nào?

NGƯỜI HỎI THỨ HAI: Tôi cho là do việc được nuôi dạy trong gia đình Thiên chúa giáo. Tôi đã đọc và thấy nói rằng Thiền vượt khỏi đạo đức, nhưng không có cách cư xử đạo đức, không có cảm giác sai- đúng, như vậy không phải là thế giới sẽ rối loạn hơn bây giờ sao?

LÃO SƯ: Thiền vượt lên đạo đức nhưng không chối bỏ đạo đức. Nói cho có vẻ Thiền hơn," Thiền ở trên đạo đức nhưng đạo đức không nằm dưới thiền." Con người đạo đức biết cái đúng từ cái sai, hay tư duy về việc làm đúng-sai của mình nhưng anh ta không biết ai là người đang nghĩ đúng-sai. Những nhận định sâu như vậy đòi hỏi sự tu tập và ngộ.

3 NHÀ THỔ VÀ PHẬT GIÁO

NGƯỜI HỎI: Tôi vừa học xong một khoá giáo lý Phật giáo, trong đó chúng tôi đọc rất nhiều kinh. Một trong những kinh đó kể về A-nan-đà, một đại đệ tử của Ðức Phật. Một hôm A-nan đến gần một nhà thổ và sắp bị mê hoặc thì Ðức Phật do thần thông của mình biết được A-nan bị nạn nên giải thóat cho ông ta. Và một kinh khác--tôi nghĩ có tên là Duy-ma-cật--nói cư sĩ Duy-ma-cật thường xuyên đến nhà thổ. Lại trong một kinh khác nữa-tôi không thể nhớ tên--có câu chuyện về một người phụ nữ giác ngộ trở thành gái điếm. Dường như có mối quan hệ mạnh mẽ giữa Phật giáo và nhà thổ.

LÃO SƯ: Trong hàng cư sĩ, Duy-ma-cật là người có mức độ ngộ rất sâu chỉ sau đức Phật mà thôi. Và vì là một người ngộ rất sâu, cho nên đối với Duy-ma-cật, công việc hoằng pháp độ sanh là nhu cầu cần thiết tự nhiên như hơi thở. Nó có cho anh vết tích tại sao ông ta đến nhà thổ không?

NGƯỜI HỎI: Rõ ràng thầy ám chỉ ông đến đó để thuyết pháp. Nhưng tại sao lại là nhà thổ?

LÃO SƯ: Tại sao không phải là nhà thổ? Thánh nhân cũng như gái điếm đều có sức mạnh đánh thức Chân tâm. Người phụ nữ đắc ngộ mà anh vừa nhắc đến --nên gọi là Bồ tát--trở thành gái điếm để giải thoát đàn ông khỏi đam mê đồi bại của họ.Và cố gắng thức tỉnh những tâm hồn ngu muội, đen tối của các gái mãi dâm và những người bảo trợ họ. Duy-ma-cật thường xuyên lui tới nhà thổ. Ðúng, có và liên tục mối quan hệ vững chắc giữa nhà thổ và Phật giáo.

NGƯỜI HỎI: Thầy không nhắc đến A-nan-đà. Thế còn ông ta thì sao?

LÃO SƯ: Vào thời điểm xảy ra sự kiện như anh nói, chắc chắn A-nan-đà chỉ là một chú tiểu, mà mấy chú tiểu đôi khi rơi vào những tình trạng khốn đốn. Tôi có phải nói điều gì xảy ra khi thầy tôi dẫn các huynh đệ chúng tôi đến một nhà thổ và sau đó dẫn tôi đến nhà vũ nữ không?

NGƯỜI HỎI : Vâng! Vâng!

LÃO SƯ: Trước hết tôi kể cho quí vị nghe về một pháp tu gọi là Takuhatsu. Một nhóm tăng xếp hành một, đi trên đường, tụng "Ho" ("pháp"). Mỗi người cầm một bát gỗ và mang một cái bao vải quanh cổ. Người lớn, trẻ con đặt tiền vào bát để cúng dường và thức ăn vào cái bao, sau đó người cho và người nhận chắp vái nhau, chào nhau tỏ lòng kính trọng và biết ơn nhau. Mặc dù từ Takuhatsu thường được dịch là "ăn xin" nhưng các tăng không"xin." Họ rao giảng giáo lý của Ðức Phật trước công chúng, lấy chính cuộc sống của họ làm điển hình và đáp lại được cúng dường thức ăn và tiền bạc để độ thân. Chư tăng được huấn luyện để cái nhìn bình đẳng trước các tài thực cúng dường. Ðó là không có những phán xét như," Ông này rộng lượng, bà kia keo kiệt." Tương tự như vậy đối với công đức chủ, nếu họ đóng góp với cái tâm bình đẳng sẽ không có những suy nghĩ như," Tôi sẽ có được công đức tinh thần vì đã đóng góp vào đó."

Vào một ngày tháng Hai, sau khi tôi đã ở tu viện ba tháng, lão sư nói với tôi," Mai anh sẽ đi khất thực cùng chúng tôi." Ðó là lần đi khất thực lần đầu tiên của tôi và tôi mong đợi một cách háo hức với kiểu tu mới này, cho dù nó có nghĩa là đi bộ nhiều giờ trên tuyết băng bằng đôi giầy cỏ và bồ đồ mỏng của thầy tu.

" Ngày mai chúng ta sẽ đi khất thực ở đâu, thưa lão sư?"

"Tới làng kế bên. Sau khi khất thực chúng ta sẽ làm lễ giổ trong vườn."

" Loại vườn nào?"

" Một vườn sen về đêm."

"Nhưng…"

" Không hỏi nữa! Hãy kiên nhẫn, Kapleau. Anh sẽ biết, anh sẽ biết."

Hôm sau một nhóm mười người chúng tôi đi khất thực, dẫn đầu là lão sư. Khi chúng tôi đến một khu vực đổ nát của làng, vẫn tụng "Ho" lão sư ra dấu cho chúng tôi ngừng ở trước một ngôi nhà sập xệ. Ông rung chuông và chúng tôi tất cả chờ trong phòng đợi. Chẳng bao lâu xuất hiện một người đàn bà dáng vẻ thô kệch ra tiếp chúng tôi với vẻ ngạc nhiên. Có lẽ là chúng tôi đến sớm hơn dư định, nhưng bà ta không nói về điều này mà chỉ xin lỗi vì điều kiện của ngôi nhà, hẳn là nữ gia chủ. Cười, lão sư từ tốn nói," Chúng tôi thường quá sớm hay qúa trể." Người gia chủ bảo chúng tôi đi theo bà. Khi chúng tôi đi vào một tiền phòng rộng lớn, tiếng âm nhạc và ầm ỉ vui thú của những cô gái ăn mặc hở hang và những người đàn ông say rượu đều ngừng lại như máy ghi âm đột ngột bị đứt.

"Ðây là nhà thổ!" những lời vụt ra khỏi miệng tôi trước khi tôi có thể kềm lại.

Một cặp say mèm xốc xếch lăn sang phòng kế bên và cài cửa kéo đóng họ lại trong đó. Người chủ chứa chạy vội ra và chốc lát quay lại mang chè xanh và bánh. Chúng tôi ăn trong yên lặng. Sau bửa giải khát này, chúng tôi sắp hàng quỳ theo kiểu người Nhật, cùng với người chủ chứa và các cô gái, trước bàn thờ Phật của "gia đình" , tay chắp lại. Trên bàn thờ là một số tấm ảnh, chắc là hình của những thân nhân đã mất của các thành viên trong "gia đình." Như với sự thu hút của một chuyên gia xem xét các mẫu vật hiếm, lão sư đốt một cây nhang và đặt nó dọc theo những vật thực cúng dường đặt trên bàn Phật. Trở lại vị trí chủ lễ, lảo sư cất giọng đọc vài hàng đầu tiên của bài Bát nhã tâm kinh, sau đó mọi người cùng nhau tụng.Tôi liếc nhìn những người phụ nữ. Năm tháng đã tàn phai nhan sắc của họ. Bổng nhiên họ trở thành những cô gái nhỏ dự buổi lể tôn giáo lần đầu tiên. Với sự ngây thơ và trong trắng như một đứa trẻ họ tụng,

" Sắc bất dị không , không bất dị sắc…"

Sau khoảng mười lăm hay hai mươi phút tụng, lễ giỗ chấm dứt. Một lần nữa chúng tôi được phục vụ trà bánh, lần này mọi người cười đùa vui vẻ khi lão sư và các tăng tán gẫu với bà chủ chứa và các cô gái của bà.Thay cho bửa ăn như thông lệ, chúng tôi được cúng tiền, sau đó người chủ chứa cho một xe hơi sang trọng đưa chúng tôi về tu viện.

Hai tuần sau sự kiện này, lão sư đến phòng tôivui vẻ hỏi," Tối nay anh muốn đi với tôi đến một nhà vũ nữ không? Ba mươi phút nữa đến chổ của tôi nếu anh muốn đi."

Ðây là lời mời xã giao đầu tiên của lão sư và dường như ông thích tôi đi kè?. Nhưng tại sao lại đến nhà vũ nữ? Việc viếng thăm nhà thổ là một phần trong việc đi khất thực cùng với chư tăng, lời mời này có ý nghĩa khác. Nó có phải là một cách kiểm tra Thiền hay không? Nếu như thế, tôi được kiểm tra cái gì?

"Nếu mi đi," tôi tự nhủ," chẳng có gì khác là uống rượu sakê và bia hoặc rượu mạnh." Rượu, tôi biết từ kinh nghiệm đau thương, có hại cho bao tử cũng như việc tập luyện của tôi, và tôi tự hứa với vị trụ trì già từ bỏ nó. Lời mời của lão sư là cám dổ đầu tiên theo hướng đó. Có lẽ đây là thử thách. Tôi nhớ lại câu chuyện về Gurdjieff, một tối nọ ông mời nhiều môn đồ trước đây nghiện rượu tới một dạ hội ở Pari. Trong buổi dạ hội, ông liên tục mời họ rượu trái cây và rượu champagne,dù họ từ chối là họ kiêng rượu và họ không muốn vi phạm, ông ta vẫn tiếp tực thúc ép. Cuối cùng họ chịu thua và uống đến ngán. Ngày hôm sau, với sự ăn năn và tự hận, họ mắng ông ta thậm tệ." Tại sao ông ép chúng tôi uống rượu?", họ hỏi.

" Có ai chỉa súng vào quí vị đâu?, Gurdjieff ôn tồn hỏi," Qúi vị đâu có bị bắt buộc uống rượu, phải không?"

Những suy nghĩ về câu chuyện này và sự liên hệ có thể của nó với lời mời này chạy trong đầu tôi, tôi nhìn đồng hồ, ba mươi phút gần như đã hết. Với cảm xúc lẫn lộn tôi nhận thấy mình bước về hướng khu nhà của lão sư.

" Rất mừng là anh đi với tôi, Kapeau," ông nói khi tôi bước vào nhà, "sẽ là một buổi tối vui vẻ."

Chúng tôi lên đường đến nhà vũ nữ.

Lúc đến nơi có sự trao đổi chúc mừng vui vẻ. Một vũ nữ ăn vận thanh lịch đi cùng chúng tôi đến một cái bàn tròn thấp trong phòng chiêu đãi rộng lớn, nơi có rất nhiều khách khác nữa. Ba cô gái nhảy khác nhanh chóng nhập bọn cùng với chúng tôi, một cô mang ra trước tiên những khay đầy rượu sa-kê và bia. Những cố gắng nhỏ nhoi của tôi dùng điều độ thu được kết quả rất nhỏ. Lúc này sau những cố gắng không thành công ngăn cản cho cô vũ nữ đổ vào ly tôi một hớp rượu uýt-ky Suntory do một vị khách muốn mời người Mỹ" vì người Mỹ thích uống rượu uýt-ky không pha," tôi nhìn lão sư im lặng cầu cứu. Ông quay lưng và cười phá lên, rồi quay sang những vũ nữ, đang bu quanh ông như bầy ong bám vào một bông hoa ngát hương, thưởng thức mật hoa của cái hóm hỉnh khôn ngoan của ông.

Từ góc phòng, một máy hát phát ra điệu nhạc Mỹ ồn ào tẻ nhạt, rõ ràng là cái cúi chào nhạy cảm đối với vị khách nước ngoài. Ðể chào mừng sự hiện diện của tôi đúng cách, thay vì biểu diễn các điệu vũ cổ truyềnNhật, các vũ nữ đề nghị tất cả chúng tôi đều nhảy theo kiểu Tây phương. Lập tức chúng tôi bắt đầu rơi vào một hổn hợp các điệu nhạc Fox, Valse, Tango, và Rumba. Ðể có mối liên hệ Nhật-Mỹ vững vàng hơn chúng tôi ca bài " Sông Swanee" và 'Thùng rượu Polka," theo sau bởi bài "Trăng trên lâu đài" và "Ðêm im lặng." Những bài hát Mỹ tôi hát trước bằng tiếng Anh, và rồi, thật ngạc nhiên lão sư và các vũ nữ ca tiếp bằng tiếng Nhật.

Khi đêm tàn, sàn nhảy trở nên đông đúc, và giữa những bài ca, chúng tôi nhanh chóng làm quen với ba thương nhân người Nhật và những vũ nữ của họ. Một người trong bọn rõ ràng là quen thân với lão sư, đặc biệt quan tâm đến tôi. Người đàn ông ngày càng thân thiện và huyên náo cho tới khi, giống như một con chó con lớn với móng vuốt dính sình, trở nên khá phiền toái. Khi ca hát và ăn uống say sưa đến đỉnh cao, anh ta bằng cách nào đó dẫn tôi vào một phòng riêng nhỏ cách xa gian nhà chính. Căn phòng trống rỗng ngoại trừ một cái giường. Anh ta định làm gì? Trước khi tôi hiểu ra ý định của hắn, nhẹ nhàng bước vào, một người phụ nữ trẻ thô kệch đầy phấn son, mỉm cười chào mời tôi--không phải là vũ nữ mà rõ ràng là?một thành viên của giới bán hoa chuyên nghiệp. Cô bắt đầu cởi đồ. "Bạn" tôi lảo đảo ra khỏi phòng, để lại một mình tôi với cô gái.

Ðâ? có phải là thử thách do lão sư dàn cảnh hay không? "Tại sao ông không dùng một cô vũ nữ xinh đẹp quyến rũ ta mà lại là cô gái điếm xấu xí này?", tôi tự nhủ. " Ðây chắc là thử thách thật sự." Những suy nghĩ đó chạy trong đầu tôi, cô gái đột nhiên đẩy tôi lên giường và bắt đầu lột đồ tôi. Tôi đẩy cô ta ra. Cô rút lui lại trông thảm nảo và ngạc nhiên. Qua sự mơ màng của rượu, tôi nhìn chăm chăm vào cô ta. Tôi cảm thấy như một thiền tăng trong công án, người miệng cắn vào nhánh cây bị treo lơ lửng trên miện hố. Nếu anh ta mở miệng để trả lời câu hỏi quan trọng của người hỏi, anh ta sẽ bị rơi và bị thương nặng. Nhưng nếu không trả lời là phụ lòng người hỏi." Nếu mi buông ra và rơi vào vòng tay cô ta," tôi tự nhủ, "có lẽ mi bị lọt vào tay của lão sư--cái bẩy của ông. Nhưng nếu mi chuồn đi, mi đã trốn tránh sự kiểm tra của lão sư."

Tôi phải làm gì?

Trong tu tập, tôi đã tạo được một ít niềm tin vào lời dạy trong kinh Pháp hoa rằng người gặp nạn sẽ được cứu khổ nếu chí thành niệm danh hiệu Qúan thế âm. Bây giờ chính mình cầu cứu ngài. Ngài chắc hẳn cảm thấy lời kêu cứu của tôi như là một trường hợp thử nghiệm, lập tức có sự cảm ứng của ngài. Nó đến với hình thức của ba vị tăng vạm vở từ tu viện, lặng lẽ nhưng nhanh chóng bước vào phòng, lướt qua cô gái và đến nắm tôi. Một nắm đầu và vai, còn hai người kia mỗi người nắm một chân. Giống như người vác quan tài, họ khiêng tôi trịnh trọng trên cao đi qua phòng tiếp khách đến lối đi dẫn xuống cầu thang. Thầy tôi, bao quanh bởi một nhómvũ nữ vui tươi, đang cười nức nẻ đến nổi nước mắt tuôn trào xuống mặt thầy.

Bên ngoài một đám đông dân làng đang tu tập xem, những khuôn mặt không biểu lộ cảm xúc tưởng như đó là một cảnh thông thường, các tăng tin tưởng vào sự thành công đã mang xe đạp đến cho tôi. Trong im lặng chúng tôi đạp xe về tu viện .

Trở lại phòng tôi bắt đầu xếp lại những câu hỏi nén chặc trong đầu. Làm sao các tăng biết được tình trạng nguy cấp của tôi? Có phải kế hoạch của lão sư bị hỏng bởi trò hề thô kệt của thương nhân say rượu, buộc ông gởi tín hiệu cấp cứu tới chư tăng hay gã thương buôn có vai trò chỉ định? Có thể nào chư tăng nhạy cảm như ăng-ten, nhận được tín hiệu nguy khốn của tôi hay không? Hay có phải vị tu viện trưởng do giác quan thứ sáu biết những điều tai quái của lão sư, đã phái chư tăng đến giải thoát cho tôi ? Dẫu sao có lẽ sự giải cứu xấu hổ từ tình trạng thúc bách này là kết quả như ý của vở kịch.

Câu hỏi dai dẳng hơn hết đối với tôi là: Tu viện trưởng đóng vai trò gì, nếu có, trong vở kịch Thiền này? Dù tám mươi bốn tuô?, ông vẫn tích cực gánh vác nhiều trách nhiệm. Có phải lão sư, người quan tâm đến cá nhân đến tôi, đã dám dẫn tôi đến nhà vũ nữ mà không có sự hay biết hoặc đồng ý của tu viện trưởng hay không? Dường như không phải như vậy. Tại sao tu viện trưởng, người chưa bao giờ đụng đến rượu, ngoại trừ một hay hai hớp rượu sa-kê trong buổi lễ ở tu viện, lại chấp nhận sự viếng thăm của tôi đến nhà vũ nữ, nơi ông biết sẽ có uống nhiều và bởn cợt, trừ phi để thử tôi? Một câu chuyện Thiền khác đến với tôi về một thiếu niên có cha làm nghề ăn trộm muốn truyền tay nghề cho con. Trong chuyến ăn trộm đầu tiên, cả hai nghe tiếng chân bên ngoài. Không do dự người cha tóm lấy đứa con, nhét vào cái rương, dập cái nắp xuống, đặt những cuốn sách nặng nề lên trên, rồi trốn thoát một mình. Nhiều giờ sau cậu con trai trở về, tả tơi, kiệt sức.

"Cha," đứa con thét lên giận dữ," tại sao cha đặt tôi vào rương? Nếu tôi không cố gắng một cách tuyệt vọng với ý nghĩ sẽ bị cầm tù, con sẽ không bao giờ thoát ra được!"

Người cha mĩm cười." Con ta ơi," ông nói," Con đã học bài học đầu tiên của nghệ thuật ăn trộm rồi đó."

Sự khác nhau của câu bé và tôi là nó tự mình thoát ra khỏi tình trạng nguy cấp không ai trợ giúp, trong khi tôi phải nhờ chư tăng giải cứu.

Tôi nhận được mấy điểm từ bài kiểm tra này, nếu nó thật sư là bài kiểm tra? Tôi không bao giờ được biết, vì vị trụ trì già, lão sư hay chư tăng không bao giờ nhắc đến sự kiện này.

Hãy nói tôi biết, các anh nghĩ xem tại sao lão sư mang tôi đến nhà vũ nữ?

GIỌNG THỨ NHẤT: Ông cố dạy thấy một bài học Thiền.

LÃO SƯ: Ðúng, nhưng bài học gì?

GIỌNG THỨ NHẤT: Tình dục là tự nhiên, thế tại sao đè nén nó?

[Cười]

GIỌNG THỨ HAI: Ông muốn cho thầy thấy sự tương phản giữa kỷ luật thiền viện và cuộc sống đam mê phóng đãng.

GIỌNG THỨ BA:Ông muốn kịch hóa giá trị nhận thức--sự nhanh nhạy và chắc chắn bao nhiêu khi chư tăng giải cứu thầy.

GIỌNG THỨ TƯ:Ông đang thử xem thầy đã sẳn sàng với cuộc sống xuất gia chưa hay vẫn còn bám vào những thói quen trần tục như rượu chè say sưa.

NGƯỜI HỎI: Lão sư, xin thầy hãy kể cho chúng tôi nghe thầy nghĩ gì về toàn bộ những tình tiết trong câu chuyện này.

LÃO SƯ: Thiền sư luôn luôn dạy học trò mình.

NGƯỜI HỎI: Nhưng họ dạy thầy điều gì?

LÃO SƯ:Nếu anh đứng riêng lẽ, anh chỉ là một phần; cắt mình ra khỏi người khác là cắt mình thành hai; hợp nhất thì sống, chia ra thì chết.

NGƯỜI HỎI THỨ HAI:Thế tại sao thầy không ngủ với cô gái điếm?

LÃO SƯ: Bởi vì lúc đó tôi vẫn chưa biết được chân lý cơ bản đó.

NGƯỜI HỎI THỨ BA:Giả thử thầy đã biết là, hợp nhất là sống, chia ra thì chết, thầy có thật sự trở thành một với cô gái điếm đó chỉ bởi ngủ với cô ta không?

LÃO SƯ: Nếu tôi phát triển tâm linh cao hơn, tôi có lẽ đã quan hệ với cô ta một cách không lạm dụng hay lợi dụng, vì thế tôi sẽ hợp nhất với cô ấy và vượt qua hành động tình dục. Nhưng là một người mới nhập môn, tôi đã phạm một sai lầm nghiêm trọng của một chú tiểu, tách mình theo sự phán đoán--đó là khinh bỉ--cô ta. Kết quả tôi không thấy được phải bản chất thật cao đẹp của cô ta mà là bản chất bẩn thiểu không thật của cô ta. Bằng cách từ chối cô tiến tới, tôi đã từ chối sự trong trắng và phẩm cách của một con người, người tình cờ trở thành gái điếm, trong khi làm như vậy, tôi đang làm ô uế cả hai chúng tôi.

Ðối với tôi, cô ta không gì hơn là "một con đĩ xấu xa." Ðối với lão sư, cô ta "hoa sen về đêm." Trong Phật giáo, hoa sen là biểu tượng của Chân tâm, vì hoa sen lớn lên từ bùn và nở ra hoa xinh xắn, vì vậy Chân tâm của ta, không hoen ố bởi vô minh hay những đam mê bất thường, biểu lộ cái trong sáng và đẹp đẻ của nó trong ngộ. Cả hai chúng tôi đều sử dụng những nhãn hiệu của thầy tôi thì thanh cao từ bi, còn của tôi thì thô thiển phê phán.

NGƯỜI HỎI THỨ TƯ: Một thiền tăng độc thân có thể biểu lộ từ bi trong những hoàn cảnh như vậy mà không hi sinh sự độc thân của mình hay không?

LÃO SƯ: Ông ta có thể, và sau đây là câu chuyện liên quan đến việc này.

Một thiền sư đang đi bộ qua một thành phố lớn, chợt ông nghe thấy tiếng ai đó gọi to tên ông từ một cửa sổ của một toà nhà hai tầng. Ngước nhìn lên, ông thấy một phụ nữ, hẳn là một gái điếm. Lấy làm ngạc nhiên vì cô ta biết ông. Khi ông hỏi, thì cô ta trả lời," Nhiều nămvề trước khi anh còn là một cậu bé con, nông trại nhà tôi nằm kế bên nhà của anh. Sau khi anh đi tu không lâu, mùa màng thất bát liên miên nên thân tôi phải ra dường này." Sư đi vào nhà nói chuyện với cô, và cô yêu cầu sư ở lại qua đêm ở đó.

Ông trả tiền trọ và đưa thêm tiền cho cô. Họ chuyện trò với nhau nhiều giờ về bản thân, gia đình, cho đến lúc phải nghỉ ngơi. Khi người phụ nữ dọn giường, sư tọa thiền." Tại sao anh tham thiền?" cô hỏi." Anh rất nhân tư,?tôi muốn tỏ lòng biết ơn. Không ai khôn hơn ai đâu."

Vị sư không cử động mà chỉ đáp," Công việc cô là ngủ, của tôi là ngồi. Vì vậy hãy đi ngủ và tôi sẽ tiếp tục ngồi." Và đó là những gì ông làm tới sáng.

Khi thiền sư được yêu cầu viết vài lời phiá sau bức hình của cô, ông viết:

Phật bán giáo lý

Chư tổ bán Phật

Chư sư bán tổ

Cô bán thân cô

Ðam mê của chúng sinh có thể được chế ngự

Sắc tức là không, đam mê là Bồ đề.

Nếu quí vị thật sự hiểu được những lời này, quí vị sẽ biết rằng không có cái "tốt" để tìm và không có cái "xấu" để tránh.
 
 


   
 
 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

PG Ninh Hòa tưởng niệm Bồ tát Thích vuot song Phà p PhÃƒÆ xúc binh than voi sinh tu dạ PhÃƒÆ p PhẠt sợ xá tội vong nhân PhẠt già o HẠcha me va con cai Sợi dây chuyền định mệnh sanh rau lang minh asvaghosha Vu lan không mẹ vạn Vu lan xa mẹ xà Phá Ÿ 1 2 3 ta đi ăn chay Mẹ xúc động trước lá thưông chủ facebook Chá phổ xưng hô trong chùa thế nào cho đúng Phát hiện giải pháp mới trị mất ngủ phật vÃ Æ xuân đinh dậu của mọi người y nghia sau dua be tren than phat di lac Phúc đức y nghia sau xa cua bon chu a di da phat món トO Phương cách ăn uống giúp huyết áp ổn y nghia tam quy va ngu gioi Quy y tam bao Phận bo kinh phat co nhat tai chua bo da duoc xep hang Trung thu hoài ức và trăn trở nhung dieu can luu y khi thien tap người giàu có và cái bát mẻ chum 12 quy tac quan trongde song nhu mot thien su phai lam gi khi cam thay co don va khong con diem